Khu VIII – Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

IV – TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

1 – Tình hình trước tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968

2 – Tổng tiến công và nổi dậy đợt 1

Ở An Giang, tỉnh An Giang của ta theo cách phân chia địa lý hành chính của chính quyền ngụy là 2 tỉnh Châu Đốc và An Giang.

Ở Châu Đốc, địch có 20.000 quân; ở An Giang chúng có 10.000 quân, với hệ thống đồn bốt, cứ điểm dày đặc. Riêng trong thị xã Châu Đốc địch có trên 2.000 quân, nhiều xe bọc thép, giang thuyền và cụm pháo bố trí ở núi Sam, Đồng Ky, sân bay,…

Trong tổng công kích – tổng khởi nghĩa ở tỉnh An Giang ta xác định mục tiêu chính là thị xã Châu Đốc, mục tiêu phụ là thị xã Long Xuyên; Tri Tôn, Tân Châu là diện căng kéo địch.

Lực lượng tiến công vào thị xã Châu Đốc của ta từ Núi Dài Lớn (Tịnh Biên) và căn cứ Ban An (Tân Phú) hành quân về thị xã Châu Đốc. Tối ngày 31 tháng 1 năm 1968, 2 cánh quân gặp nhau.

Lực lượng vũ trang An Giang trên đường tiến công vào thị xã Châu Đốc Xuân 1968

Hai giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, ta nổ súng tiến công vào thị xã Châu Đốc. Sau vài giờ chiến đấu, ta gần như làm chủ hoàn toàn thị xã, chiếm tiểu khu, loại Đại đội 810 hành chính tiếp vận khỏi vòng chiến đấu, tiếp tục tấn công trại giam và dinh tỉnh trưởng. Bệnh viện tỉnh cũng lọt vào tay quân giải phóng. Địch trong dinh tỉnh trưởng được tàu và xe bọc thép yểm trợ, kháng cự mãnh liệt, ta phải dừng lại củng cố. Cánh quân thứ ha của ta làm chủ hoàn toàn đường núi, diệt đồn quân cảnh, rạp Tân Việt, trụ sở cảnh sát dã chiến, tấn công trụ sở USOM. Một bộ phận đánh vào khu vực nhà tên phó tỉnh trưởng. Một bộ phận định đánh ra bến đò nhưng bị địch chặn lại. Cánh quân thứ ba chiếm khu vực cầu sắt An Biên – Thủ Khoa Nghĩa, bao vây địch trong nhà Phủ Vị, vũ trang tuyên truyền lên đến khu vực Đất Thánh Tây. Một bộ phận làm chủ tiệm rượu Vĩnh Phong Long, bao vây thành PC, tổ chức trận đánh tàu ven sông Cồn Tiên, Đa phước.

Đến 6 giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, địch chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng, nhà Phủ Vị, thành PC. Địch hoàn toàn bị động trước cuộc tấn công. Tên tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng đi ra ngoài không về được dinh. Tên tiểu khu phó liều chết chạy vào dinh tỉnh trưởng cố thủ. Tên đại úy, quyền tham mưu trưởng tiểu khu bị kẹt trong thánh thất Cao Đài. Các cụm pháo Núi Sam, An Phú im tiếng vì không chuẩn bị sẵn tọa độ trong nội ô. Suốt đêm mồng 1 rạng ngày mồng 2 Tết, địch không tổ chức phản kích được, chỉ có 1 chiếc Dakota thả pháo sáng.

Qua ngày 31 tháng 1 năm 1968, ta củng cố các vị trí đã chiếm được. Trại Thượng Đăng Lễ (tiểu khu) cùng 2 lô cốt cuối cùng ở giáp dinh tỉnh trưởng và liền bờ tường trại giam chống cự. Nếu dùng bộc phá đánh hủy diệt, thì gây thương vong cho tù nhân nên ta đắn đo. Phía bờ sông bọn giang thuyền ngụy dùng hỏa lực tối đa kiềm chế không cho ta vòng qua toàn nhà tòa án để tiến công dinh tỉnh trưởng.

Đến trưa ngày 31 tháng 1 năm 1968, Ban chỉ huy chiến dịch nhận được tin tức các nơi trên toàn miền Nam. Tình hình chung diễn biến phức tạp. Quân giải phóng chưa chiếm được các thành phố Mỹ Tho và Cần Thơ. Các trọng điểm Sài Gòn, Huế vẫn đang giằng co. Ở những nơi đó, địch đang ráo riết phản kích. Ở Châu Đốc cũng có khả năng chúng sẽ đưa lực lượng đến cứu viện. Ở mặt trận Châu Thành – Long Xuyên, địch chặn ta ở cánh đồng Năm Xã, bịt kín các ngả đường vào nội ô thị xã Long Xuyên. Mũi vũ trang trong nội ô chỉ phá được phà Vàm Cống, ném lựu đạn vào ấp Đông Thịnh B. Cánh quân ta ở Châu Phú chiếm khu vực phía dưới chùa Chà Châu Giang, định vượt sông sang Châu Đốc nhưng bị địch chặn lại. Tại Hòa Lạc, cán bộ ta phát động quần chúng nổi dậy nhưng bị địch đàn áp dữ dội. Cánh quân ta chiếm vùng Cây Dương xã Vĩnh Hậu bị địch chặn, không triển khai được qua Cồn Tiên – Đa Phước dù đã bắn cháy 2 tàu, đánh lui 3 chiếc khác. Ở Tri Tôn, đại đội địa phương đánh vào thị trấn và cầu kênh 14-15 cắt lộ tả Tri Tôn – Long Xuyên, chiếm trụ sở cảnh sát, diệt 1 trung đội bảo an. Địch còn giữ được chi khu và dinh quận. Ta làm chủ quận lỵ suốt ngày 31 tháng 1 năm 1968. Du kích các xã Núi Tô hỗ trợ 3.000 quần chúng tiến ra quận lỵ nhưng địch đàn áp mạnh nên phải rút.

Chiều ngày 31 tháng 1 năm 1968, tại thị xã Châu Đốc, địch đưa lực lượng của Sư đoàn 21 ngụy đến tiếp viện. Máy bay địch bắn phá vào khu vực ta đặt sở chỉ huy chiến dịch. Trực thăng đổ 1 tiểu đoàn xuống sân bay, 1 đại đội xuống ngoài đồng hướng cuối kênh Lò Heo. Một tiểu đội từ núi Đất Tịnh Biên đã ra tới Núi Sam. Trong nội ô, địch trong sở chỉ huy tiểu khu Châu Đốc (thành PC) và nhà Phủ Vị đang nống ra. Pháo địch ở An Phú, khu vực sân bay và Núi Sam bắn dồn dập.

Đêm 31 tháng 1 năm 1968, thấy tình thế diễn biến bất lợi, Ban chỉ huy chiến dịch lệnh cho rút lui. Phía Tri Tôn, ta cũng rút. Trên đường về, ta diệt đồn Sóc Suối và đánh thiệt hại nặng đồn Sóc Thiết. Riêng tiểu đội chốt giữ cầu kênh 13 do không nhận được lệnh rút nên vẫn bám trụ. Sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, địch phản kích, tiểu đội chiến đấu dũng cảm, chỉ còn 1 chiến sĩ sống sót.

Ở Châu Thành, Huệ Đức, ta và địch tiếp tục kịch chiến trên cánh đồng Năm Xã trong 45 ngày đêm. Nhiều lần, ta đánh thọc ra Vĩnh Hanh, cắt giao thông trên lộ tẻ, đánh vào Cái Chiên xã Bình Đức, vũ trang tuyên truyền ở Phú Hòa, bao vây chi khu Huệ Đức, cắt lộ Ba Thê – Núi Sập. Địch bị diệt trên 400 tên, bị bắn cháy 2 tàu. Nhiều đồn bốt bị gỡ. Cuối cùng, chúng tập trung lực lượng, máy bay, pháo, xe bọc thép chà xát cánh đồng Năm Xã. Ta phải rút về Đồng Tràm – Huệ Đức để củng cố.

Tháng 3 năm 1968, tiếp tục đợt 1, theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy chỉ thị cho An Giang phải mở cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền lớn vào vùng Chữ O (thuộc huyện Tân Châu), nơi có nhiều đồng bào theo đạo Hòa Hảo, và có trụ sở của Trung ương Hòa Hảo (phái Lương Trọng Tường). Đây là vùng mà địch và những tên cầm đầu phản động làm tay sai cho địch lợi dụng lòng yêu nước và lòng trọng đạo của đồng bào để kích động, gây chia rẽ, kìm kẹp, khống chế, lôi kéo một bộ phận tín đồ chống lại cách mạng, hòng biến vùng này thành nơi dự trữ sức người, sức của cho chúng để đánh phá cách mạng. Từ sau khi bộ đội ta đi tập kết (năm 1954), lực lượng cách mạng chưa thâm nhập được vào vùng này. Vì vậy, lần này ta chủ trương đưa 3 tiểu đoàn tỉnh An Giang, tron đó có Tiểu đoàn 3 mang danh nghĩa bộ đội ông Mười Trí là cán bộ quân sự Bình Xuyên theo cách mạng, được giáo chủ đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đặt cho là Sư Thúc. Ông tập kết ra Bắc năm 1954 đến năm 1968 được Trung ương đưa về Khu VIII vận động đồng bào Hòa Hảo. Yêu cầu của đợt hoạt động này là phát huy thế cách mạng vào nơi địch coi là an toàn nhất; tuyên truyền chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo của Mặt trận dân tộc giải phóng, cổ vũ lòng yêu nước, vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo từng bước tách khỏi sự kìm kẹp của Mỹ – ngụy, trở về với cách mạng, với dân tộc. Cùng đi với bộ đội, có cán bộ vận động Hòa Hảo của tỉnh và huyện. Để thực hiện nhiệm vụ này, Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo Tỉnh ủy, Tỉnh đội An Giang chuẩn bị cho bộ đội ngoài phương thức tác chiến, phải chú ý công tác vũ trang tuyên truyền, học tập nắm vững chính sách tôn giáo, phong tục tập quán, các nghi lễ của đồng bào theo đạo Hòa Hảo, giữ nghiêm kỷ luật dân vận.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, đêm 23 rạng ngày 24 tháng 3 năm 1968, các đồng chí Mười Đức – Phó bí thư Tỉnh ủy, Võ Ngọc Cẩn (Năm Sương) – Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Văn Hơn (Sáu Sên) – Chính trị viên tỉnh đội, lãnh đạo và chỉ huy 3 tiểu đoàn mở cuộc hành quân tiến vào vùng Chữ O. Bộ đội tỉnh từ căn cứ B1, băng qua đồng trồng, vượt qua kênh xáng Tân An, kênh Cũ về tập kết tại xã Long Sơn. Từ đây bộ đội tỉnh chia làm 2 cánh: Cánh thứ nhất có Tiểu đoàn 1 và một bộ phận của Tiểu đoàn 3, tiến xuống xã Phú Lâm và xã Hòa Hảo (là trung tâm thánh địa). Cánh thứ hai có Tiểu đoàn 2 và bộ phận còn lại của Tiểu đoàn 3, tiến vào các xã Hiệp Xương và Bình Thạnh Đông. Phía sông Hậu, 1 đại đội của tỉnh và bộ đội huyện Châu Phú bố trí trên địa bàn xã Hòa Khánh để ngăn chặn địch từ Long Xuyên lên phản kích.

Hoạt động của các cánh quân như sau:

  • Tiểu đoàn 1 của tỉnh bố trí một trận địa dài 2 kilômét (từ kilômét 14 đến kilômét 16) thuộc hai xã Long Sơn và Phú Lâm, tiến hành vũ trang tuyên truyền, bao vây, bức hàng đồn Tân Phú nhưng do địch chống trả nên ta phải dùng hỏa lực diệt đồn này. Một bộ phận khác của Tiểu đoàn 1 đã áp sát hai xã Hòa Hảo và Hưng Nhơn, tiến hành vũ trang tuyên truyền. Một đại đội của Tiểu đoàn 3 chặn đánh một lực lượng địch từ Hiệp Xương. Ta đã chiến đấu quyết liệt, bắn chết tên thiếu úy ngụy và nhiều tên khác, đẩy lùi mũi phản kích của địch.

Trên địa bàn xã Khánh Hòa, bộ đội tỉnh bố trí chặn và cắt đứt đường từ Long Xuyên đi Châu Đốc. Địch sử dụng Liên đoàn biệt động quân từ Bảy Nùi, lực lượng Sư đoàn 9 ngụy có 1 chi đoàn xe M113 và số tàu chiến ở căn cứ Vịnh Tre – Cái Dầu… đến phản kích ta tại xã Khánh Hòa. Bộ đội chặn đánh các mũi phản kích của chúng, diệt 9 xe quân sự, bắn cháy 3 xe M113 và tiêu hao, tiêu diệt một số địch, thu 30 khẩu súng.

Bị đánh thiệt hại nặng địch sử dụng một tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 9 ngụy, có tàu chiến, pháo binh và 45 xe M113 yểm trợ, tiến quân đánh vào lực lượng ta ở hai xã Long Sơn và Phú Lâm. Bộ đội ta chặn đánh địch suốt ngày, bắn cháy một tàu chiến, 1 xe M113, tiêu diệt và làm bị thương một số tên địch. Tại các xã: Phú Lâm, Hòa Hảo, Hiệp Xương, Bình Thạnh Đông, Long Sơn,… bộ đội ta ngoài việc chặn đánh lực lượng phản kích của địch, còn tiến hành vũ trang tuyên truyền, rải truyền đơn, vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo nổi dậy diệt tề, trừ gian, giúp đỡ bộ đội.

Về phần đồng bào theo đạo Hòa Hảo, do sự tuyên truyền xuyên tạc của địch, khi bộ đội ta tiến vào đồng bào bỏ nhà, lần tránh, nhưng thấy sự tàn ác của địch và thấy sự chiến đấu dũng cảm và ý thức chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận của cán bộ, chiến sĩ ta, đồng bào đã lần lượt trở về tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội, cứu chữa và vận chuyển thương binh, nhiều đồng bào đã trực diện đấu tranh với địch, ngăn chặn pháo địch không cho bắn vào xóm làng – nơi có bộ đội ta bố trí chiến đấu, nhiều người tay không vẫn dũng cảm xông ra chặn đầu xe M113 không cho chúng càn, phá ruộng vườn.

Cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền vào vùng Hòa Hảo (Chữ O) đã giành được thắng lợi, có ý nghĩa lớn về chính trị, bước đầu tạo được sự chuyển biến lớn và tích cực, đồng bào theo đạo Hòa Hảo đã thấy rõ thanh thế của cách mạng, hình ảnh anh bộ đội giải phóng, bước đầu tin tưởng cách mạng và đã có hành động dũng cảm đấu tranh với địch, giúp đỡ, bảo vệ bộ đội và cán bộ ta. Cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền này đã tạo thuận lợi cho việc vận động cách mạng và xây dựng cơ sở Đảng trong vùng Hòa Hảo và từng bước làm chuyển biến tình hình ở vùng này có lợi cho cách mạng.

Phía Tri Tôn, ngày 5 tháng 5 năm 1968, bộ đội huyện bao vây đồn Cây Cầy – An Tức, đồn này do một trung đội dân vệ đóng giữ để kiểm soát toàn bộ khu vực đông, tây lộ An Tức. Phía tây chi khu Tri Tôn, có đồn Băng Trạo bảo vệ. Bị ta bao vây, địch cho 2 đại đội bảo an 816, 819 vào tiếp viện. Chúng lọt vào trận địa phục kích của ta. Bộ đội ta chặn đánh tiêu diệt và làm bị thương 82 tên địch.

Ngày 20 tháng 5 năm 1968, ta tiến công khu chợ Ba Thế thuộc huyện Huệ Đức nhưng không kết quả.


Khu VIII – Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

IV – TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

1 – Tình hình trước tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968

2 – Tổng tiến công và nổi dậy đợt 1

3 – Tổng tiến công và nổi dậy đợt 2

Ở An Giang, vào đợt 2, bộ đội bám trụ đánh địch và phát động quần chúng ở các khu vực Mỹ Đức, Khánh Hòa, Vĩnh Tế, Đa Phước. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, An Giang tiếp tục đưa quân xuống hoạt động ở vùng Hòa Hảo (Chữ O). Theo hợp đồng, bộ đội tỉnh An Giang từ Mỹ Đức qua vùng Chữ O, cùng lực lượng của Khu từ Hồng Ngự vượt sông Tiền qua Long Sơn, Phú Lâm, nhưng lực lượng của Khu chỉ đến được Long Thuận, đứng chân 3 ngày hoạt động vũ trang tuyên truyền rồi rút. Địch dùng 3 tiểu đoàn và xe bọc thép chặn bộ đội An Giang ở Mỹ Đức, Khánh Hòa. Trong suốt 5 ngày đêm ta đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch. Ta bị thương vong nhiều, nên rút về căn cứ.

Phía Tri Tôn, ngày 5 tháng 5 năm 1968, quân địa phương huyện bao vây đồn Cây Cầy – An Tức, do 1 trung đội dân vệ đóng giữ. Hai đại đội bảo an 816, 819 từ Tri Tôn vào tiếp viện bị ta chặn đánh. Địch chết và bị thương 85 tên. Ta hi sinh 2, bị thương 19.

Ngày 20 tháng 5 năm 1968, ta tiến công khu chợ Ba Thê thuộc huyện Huệ Đức nhưng không giành được thắng lợi.

Trong đợt 2 tổng công kích – tổng khởi nghĩa ở Khu VIII, địch tăng cường phòng thủ, lực lượng ta bị tiêu hao trong đợt 1 và trong khi bám trụ ở vùng ven chưa được bổ sung, củng cố, nhiệm vụ khó khăn hơn, nhưng các cấp lãnh đạo, chỉ huy, quân và dân toàn Khu VIII đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, đưa quân sang tiến công ở thị xã Tân An, tiếp tục tiến công vào thị xã, thị trấn bằng lực lượng pháo, biệt động, đặc công, vây ép thị xã và tiêu hao, tiêu diệt địch ở vùng ven giành thêm được một số thắng lợi, góp phần cùng toàn Miền tiếp tục giành thêm thắng lợi, giáng thêm một đòn vào kẻ thù, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn, ngày 13 tháng 5 năm 1968, phải cử một đoàn đại biểu Mỹ đến Pari trong thế suy yếu hơn để đàm phán với ta.


Khu VIII – Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=25941.160

II – ĐẨY MẠNH THẾ TIẾN CÔNG, ĐÁNH THẮNG TỪNG BƯỚC CHIẾN LƯỢC
“VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

1 – Đánh tiêu diệt, làm tan rã lực lượng biệt kích Mỹ, bảo đảm hành lang tiếp vận thông suốt

2 – Trận đánh dài ngày tại đồi Tức Dụp, An Giang

Vùng Bảy Núi của tỉnh An Giang có vị trí chiến lược quan trọng đối với cả ta và địch. Đây là vùng núi duy nhất của miền Trung Nam Bộ, nằm giáp vùng biên giới Campuchia (đoạn Tàkeo – Cambốt), là vùng có đông đảo đồng bào Khơme. Từ xưa những sĩ phu yêu nước đã về đây tập hợp lực lượng, dựng cờ khởi nghĩa đánh Pháp. Và nơi đây là căn cứ của Tỉnh ủy Long Xuyên, Châu Đốc, An Giang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đây còn là mắt xích quan trọng của hành lang chiến lược nối miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Do đó, trong quá trình kháng chiến ta và địch đều tranh chấp quyết liệt vùng Bảy Núi.

Cuộc chiến đấu kéo dài hơn 4 tháng. Tỉnh theo dõi thấy đã đến lúc phải cho lực lượng rút ra, phân tán sang các hang nhỏ đánh du kích, hỗ trợ phá bình định, phát động quần chúng đấu tranh. Đến đêm hôm đó, trời tối đen như mực. Toàn bộ lực lượng ta, gồm cả thương binh và em bé sơ sinh được sinh ra trong những ngày ở hang, bí mật luồn qua vòng vây của địch ra ngoài.

Sáng hôm sau, sau những đợt bom, pháo dữ dội, địch lò dò lên núi. Không gặp sức chống trả, chúng vào được hang. Tên Tư lệnh cuộc hành quân cho bắn quả pháo tượng trưng thứ 400.000, chấm dứt cuộc hành quân.

Đây là cuộc chiến đấu dài ngày nhất trong lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Khu VIII. Mọi bài bản, vũ khí hiện đại, tướng A. Bram đều cho đem ra dùng với một vùng đồi núi nhỏ hẹp và một đội quân cách mạng nhỏ bé, quân số ít hơn chúng đến 600 lần. Chúng còn đưa cả bọn thành viên hạ nghị viên của ngụy quyền Sài Gòn đến nhiều lần để động viên binh sĩ. Chúng sử dụng vào trận đánh hơn 100 thiết giáp, hơn 100 khẩu pháo, hàng trăm phi vụ, hàng trăm tấn bom nổ, xăng đặc, vũ khí hóa học, 400.000 quả đạn pháo. Trận đánh dài ngày này đã gây cho chúng thương vong nặng nề, hơn 2.000 tên bị diệt, hàng chục tên bị bắt sống, hơn trăm tên bỏ ngũ. Ta bắn rơi 3 máy bay phản lực, nhiều trực thăng, bắn cháy 11 xe M113, phá hủy một trận địa pháo 105, thu hàng trăm khẩu súng các loại, rất nhiều đạn và lựu đạn. Ở nhiều ấp trong khu vực, đồng bào đấu tranh thắng lợi, bám được ruộng vườn.

Trong thời gian diễn ra cuộc chiến đấu ở đồi Tức Dụp, đường hành lang chiến lược từ Miền về khu IX đã kịp thời chuyển xuống ngả Hà Tiên.

Đến giữa năm 1969, Sư đoàn 1 bộ binh của Miền trên đường hành quân về Khu IX đã được một phần lực lượng cùng với bộ đội huyện tri Tôn đánh chiếm lại một số khu vực ở núi Cô Tô và đồi Tức Dụp, cùng với lực lượng ở Tri Tôn, Tịnh Biên tập kích căn cứ Chi Lăng; phục kích ở khu vực núi Bà Đội Om, diệt 17 xe quân sự, phá hủy 4 pháo, hạ 1 máy bay, diệt gần hết 1 tiểu đoàn địch. Cũng tại khu vực núi Bà Đội Om, ta đánh trận giao thông thứ 2, diệt 4 xe, diệt tên trung tá Đỏm, Tiểu đoàn trưởng bảo an, ác ôn. Sau đó, diệt căn cứ biệt kích Ba Xoài. Sau đó, địch lại dùng lực lượng lớn tiến công ác liệt, can quét dài ngày, chiếm lại vùng Bảy Núi. Tỉnh ủy và Tỉnh đội An Giang rút về căn cứ ở Vạt Lài biên giới Campuchia. (căn cứ B3 Vạt Lài, B2 Cả Hàng).

Hơn 4 tháng chiến đấu, tranh chấp ác liệt với địch ở đồi Tức Dụp, được sự hỗ trợ của nhân dân, bộ phận nhỏ lực lượng vũ trang huyện Tri Tôn đã thu hút, kìm chân gần hai vạn lượt quân địch, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, tạo điều kiện cho vùng nông thôn đánh phá bình định, giữ được cầu hành lang, căn cứ, tạo điều kiện chuyển hành lang xuống Hà Tiên để đưa hàng cho Khu IX.

3 – Cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền vào vùng tôn giáo Hòa Hảo ở Phú Tân và Chợ Mới

Vùng Phú Tân và Chợ Mới là vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu. Đây là vùng đông dân, nhiều của, phần lớn đồng bào theo đạo Hòa Hảo. Phú Tân là trung tâm chính trị của đạo Hòa Hảo, có Tổ Đình và gia đình giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, có cả trụ sở của Trung ương giáo hội. Đây là vùng địch chiếm đóng lâu đời, cơ sở Đảng, chính trị, binh vận còn yếu. Muốn tiến xuống vùng Phú Tân (Chữ O), bộ đội An Giang phải vượt qua vành đai phong tỏa của kênh xáng Tân An, vùng kiểm soát dày dặc của hệ thống đồn bốt trên lộ đá Châu Đốc – Tân Châu. Xuống vùng Chữ O là lọt vào vòng vây của địch, tiến hoặc rút lui chỉ có một đường. Tuy hết sức khó khăn, nhưng bộ đội An Giang đã có mấy lần xuống được vùng Chữ O, có lần tiến sát Tổ Đình. Còn từ Kiến Phong sang Chợ Mới rồi trở về cũng chỉ có một hướng từ Thanh Bình vượt sông Tiền, khi trở về cũng phải theo hướng ấy.

An Giang và Kiến Phong thực hiện nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền tiến vào vùng Chữ O và Chợ Mới trong tình thế năm 1969 thật hết sức khó khăn, phức tạp. Các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy và lực lượng vũ trang của An Giang, đang từ các căn cứ B1, B2, B3 hoạt động về. Còn Kiến Phong thì cơ quan Tỉnh ủy, Tỉnh đội còn bám trụ trên địa bàn Xẻo Quít, kênh 1, bờ bao Ông Kiệu, cơ động qua các lõm căn cứ vùng Kiến Văn. Bộ đội tỉnh, du kích, cấp ủy xã, huyện còn bám trụ được trên đại bàn Kiến Văn, bắc Cao Lãnh, bắc Thanh Bình, bắc Hồng Ngự nhưng phải hoạt động trong tình thế hết sức khó khăn.

Vào đầu tháng 5 năm 1969, hai tỉnh An Giang và Kiến Phong nhận được chỉ thị của Khu đưa bộ đội cùng với Ban Hòa Hảo vận và các cán bộ dân vận tiến xuống vùng Chữ O và qua Chợ Mới. Hai tỉnh được lệnh hợp đồng tiến công cùng lúc vào vùng xung yếu, vũ trang tuyên truyền phát động đồng bào tín đồ Hòa Hảo hướng về cách mạng. Cuộc hành quân mang danh nghĩa “bộ đội Huỳnh Sư Thúc” về thăm tín đồ, tuyên truyền đồng bào đoàn kết chống Mỹ – ngụy, bộ đội không đánh đồn bốt, chỉ đánh trả những lực lượng tiến công để bảo tồn lực lượng, giữ trung lập với ban quan quân của Lương Trọng Tường và vận động ban trị sự và nhân dân tự vệ giao súng cho cách mạng.

Huỳnh Sư Thúc, tức sư thúc Huỳnh Văn Trí, thường gọi là ông Mười Trí là anh em kết nghĩa với giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ. Trong kháng chiến chống Pháp. Ông là Chỉ huy trưởng chi đội 4 liên quân Bình Xuyên. Ông tập kết ra Bắc, là Thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Trở về Nam, ông được đưa về khu VIII tham gia trong Ban Hòa Hảo vận cùng với các đồng chí Tư An – Khu ủy viên, Ba Giảng, Tám Vị, Tư Râu, Mười Tôn, Bảy Tỉnh. Trong số này có những người vốn là tín đồ, cán bộ quân sự Hòa Hảo theo cách mạng. Các đồng chí tổ chức tại căn cứ B1 Phú Hữu của An Giang, một địa điểm thật trang trọng để Sư Thúc gặp đại diện Tổ Đình, các ban trị sự đạo, các tín đồ cao nhiên của đạo dặn dò việc đạo, việc nước. Thư của Huỳnh Sư Thúc được chuyển tới cô Năm Biên, em gái giáo chủ Huỳnh Phú Sổ ở Tổ Đình và đến nhiều vị cao niên, chức sắc của đạo. Lần lượt, các vị này đến thăm viếng Huỳnh Sư Thúc ở căn cứ B1. Tại đây, Sư Thúc nhắc nhở các tín đồ nhớ lời thầy tu tại gia, đoàn kết lương giáo, không nghe những lời sai trái, không cầm súng đi lính cho giặc, không làm việc xấu, hại đến con đường chân tu của đạo. Các vị chức sắc, tín đồ cao niên tiếp thu ý kiến của Sư Thúc một cách thành kính. Ai cũng hứa sẽ vận động bà con tín đồ làm theo. Từ những cuộc gặp gỡ ấy lan ra, trong lòng nhiều tín đồ Hòa Hảo đã có sự chuyển hóa gần gũi, hiểu biết cách mạng hơn. Huỳnh Sư Thúc đi theo cách mạng, kháng chiến chống Pháp và đi tập kết, ai cũng biết. Như vậy thì cách mạng và người kháng chiến không đối lập với đạo, cách mạng đâu phải là kẻ thù như lời tuyên truyền xuyên tạc của bọn địch và bọn cầm đầu phản động trong đạo. Những cuộc gặp có ý nghĩa ấy đã giúp cán bộ cách mạng dần dần trở lại bám được trong dân, xây dựng được nhiều cơ sở chính trị, binh vận trong đồng bào tín đồ nhiều xã ở tỉnh An Giang và huyện Chợ Mới, tỉnh Kiến Phong.

Tổng kết những đợt đưa bộ đội công tác vũ trang tuyên truyền ở vùng có đông đảo tín đồ Hòa Hảo. Đồng chí Nguyễn Minh Đường – Bí thư Khu ủy đã phát biểu, trình bày rõ nội dung chỉ đạo trong Nghị quyết của Thường vụ Khu ủy về công tác vận động cách mạng trong đồng bào tín đồ Hòa Hảo với các Tỉnh ủy An Giang và Kiến Phong như sau:

Ở khu ta, ngoài Đồng Tháp Mười đất rộng người thưa và những nơi dân cư đông đúc, quần chúng đã qua nhiều lần nổi dậy làm chủ xã, ấp còn có một số khu vực có hàng triệu đồng bào tôn giáo và dân tộc mà đa số là nông dân cũng bị áp bức, đau khổ như nông dân nơi khác. Họ có khả năng nổi dậy đánh đổ đế quốc và tay sai để giải phóng đất nước và tự cứu lấy mình.

Ở nhiều vùng trong ba tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc đại đa số đồng bào là tín đồ đạo Hòa Hảo, quần chúng ở những nơi đây bị hai hệ thống áp bức và kìm kẹp là đế quốc Pháp, Mỹ và bọn đứng đầu tôn giảo, phản động, làm tay sai cho địch. Mỹ – ngụy xem đây là vùng bình định quốc gia tương đối an toàn, chiến tranh không về tới. Sự áp bức bóc lột, kìm kẹp khắc nghiệt là của bọn côn đồ lưu manh thuộc lực lượng võ trang và ban trị sự các loại của các phe phái thuộc hai đảng Dân xã Ba Sao và Dân xã Chữ Vạn. Lực lượng vũ trang của Năm Lửa, Ba Cụt, Hai Ngoán, Nguyễn Giác Ngộ được bọn xâm lược Pháp dựng lên cát cứ từng vùng, thực hiện chia rẽ lương, giáo quyết liệt chống Việt Mai. Đồng bào bị khủng bố, cướp bóc, vơ vét, đôn quân bắt lính phục vụ chiến tranh xâm lược.

Lâu nay, tín đồ Hòa Hảo đa số là nông dân, bị đầu độc tư tưởng chống cộng, thù hận Việt Minh bằng sự kiện “Đức Thầy thọ nạn”. Họ cũng căm thù đế quốc, phong kiến, địa chủ ác bá, cường hào như nông dân ở các nơi khác. Họ cũng có tinh thần yêu nước, chống ách thống trị, áp bức của đế quốc, phong kiến đã gây đau khổ cho họ và cũng muốn nổi dậy đánh đổ bọn chúng để đổi đời.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, những nơi này là vùng trắng, không có cơ sở Đảng và nòng cốt cách mạng. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, một số đảng viên hồi cư đã về vùng này lãnh đạo quần chúng nổi dậy đấu tranh.

Từ năm 1955-1959, do Mỹ – Diệm thực hiện chính sách khủng bố, tàn sát, bắt bớ, tù đày tín đồ và chức sắc Hòa Hảo, gây căm thù sâu sắc trong đạo Hòa Hảo, nên khi có cao trào Đồng khởi, tấn công và nổi dậy toàn Khu (1960), đồng bào tín đồ Hòa Hảo đã cùng với các tầng lớp nhân dân nổi dậy tấn công địch để làm chủ, diệt, làm tan rã địch ở nhiều xã, ấp. Nhưng do lãnh đạo Đảng bộ địa phương lúc ấy chưa chú trọng đúng mức đến việc đi sâu tổ chức vận động quần chúng tín đồ nổi dậy cầm súng và tiến công địch, giữ vững quyết tâm ở cơ sở mà ỷ lại vào lực lượng vũ trang bên ngoài, cho nên khi địch đưa lực lượng đến càn quét, khủng bố, đàn áp, lực lượng vũ trang rút đi thì đồng bào lại bị kìm kẹp trở lại.

Cuộc đấu tranh cách mạng để giải phóng miền Nam phải có sự đóng góp của đồng bào tín đồ Hòa Hảo, làm cho đồng bào hiểu rõ và tự giác đi theo Đảng, tự mình đứng lên làm cuộc cách mạng để giành thắng lợi từng bước, đánh đổ địch từng phần, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Mục tiêu trước mắt cần giành được phải là chính đồng bào tín đồ Hỏa Hảo tự đứng lên diệt ác ôn và làm tan rã địch ở cơ sở xã, ấp để giành quyền làm chủ, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tấn công ba mặt quân sự, chính trị, binh vận, diệt và làm tan rã địch ở các nơi khác đã làm.

Nhiệm vụ hiện nay là phải tổ chức được càng nhiều cán bộ bí mật cùng ăn ở, làm việc với đồng bào tại chỗ để xây dựng cơ sở, bắt rễ trong quần chúng. Đồng thời có kế hoạch đưa lực lượng vũ trang tuyên truyền vào để tạo cơ hội cho quần chúng tiếp cận được với cách mạng, hỗ trợ cho công tác xây dựng cơ sở Đảng tại chỗ. Vì thế, lực lượng vũ trang tiến vào vùng Hòa Hỏa lần này dứt khoát không phải là một hành động quân sự tác chiến diệt địch đơn thuần mà phải có mục đích chính trị rõ rệt. Từ hoạt động của bộ đội cho đến hành động của cán bộ, đảng viên đều phải nắm vững mục đích đó và xuất phát từ tình hình thực tế ta, địch tại chỗ mà triển khai kế hoạch cho thích hợp.


Khu VIII – Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=25941.180

Ở An Giang, tình hình tranh chấp giữa ta và địch ở vùng căn cứ Bảy Núi rất ác liệt, kéo dài từ sau các trận địch đánh vào Tức Dụp năm 1969 – 1970. Tiếp đến chúng đánh vào căn cứ Núi Dài Lớn và Thới Sơn. Địch tập trung lực lượng cấp sư đoàn đánh dài ngày, quyết triệt hạ cho được căn cứ. Chúng chiếm được Tức Dụp, Thới Sơn, ở Núi Dài Lớn còn giằng co. Ở vùng biên giới, mặc dù ngụy Sài Gòn kết hợp ngụy Lonnol đóng thêm đồn bốt, tăng cường đánh phá kho tàng của ta dọc đường hành lang nhưng sau khi ta rút lực lượng từ Bảy Núi về hỗ trợ cho phong trào tại chỗ, ta đã mở ra, giành quyền làm chủ xã, ấp, đã có mặt ở 41 xã, 1 thị xã, 2 thị trấn, 3 khu phố và 2 xã ven. Ở thị xã Long Xuyên và các huyện vùng sâu thuộc khu vực Long Xuyên, bước sang năm 1971, ta đã xây dựng được nhiều cơ sở trong các tổ chức công khai của địch, tranh thủ được các ban tề, ban trị sự Hòa Hảo, đẩy lên thành phong trào đấu tranh chính trị rộng khắp, nổ ra nhiều cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống tham nhũng, chống quân sự hóa học đường. Cuộc đấu tranh chống bọn Phường Hoàng thảm sát một tín đồ Hòa Hảo ở thị xã Long Xuyên đã tập hợp được đến 10.000 người tham gia, kéo dài nhiều đợt, rất liên quyết. Cuối cùng địch phải nhượng bộ.

Tháng 8 năm 1971, Thường vụ Khu ủy chỉ đạo An Giang thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục bàn giao cho Khu IX các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Huệ Đức, Hà Tiên. Tỉnh chỉ còn các huyện Tân Châu, An Phú, Phú Tân, Châu Thành, Long Xuyên và hai thị xã.


Đêm mồng 6 rạng ngày 7 tháng 4 năm 1972, toàn Khu đồng loạt nổ súng tiến công và nổi dậy phá bình định (đây là đợt hoạt động của Khu để phối hợp với toàn Miền).


Ở An Giang, ta chưa hoạt động và đang chuẩn bị chiến trường để mở mảng vùng An Phú.

Như vậy, cho đến trước ngày tiến hành chiến dịch tiến công tổng hợp của Miền, trên chiến trường Khu VIII đã có bước chuyển quan trọng giành thắng lợi có ý nghĩa tạo thế chiến dịch cho các bước tiếp theo. Phần lớn vùng 4 Kiến Tường đã được giải phóng, dân bung về bám ruộng vườn khá đông; Trung đoàn 320 đang đứng chân giữ hành lang chiến lược tại xã Hậu Thạnh, vùng Bắc Cái Bè, Cái Lậy, Châu Thành và vùng 20-7 Mỹ Tho đã mở rộng ra thành thế liên hoàn.

Cho đến lúc này, Khu VIII đã được Miền bổ sung 7.808 tân binh “ba sẵn sàng”, trong đó có Trung đoàn 88, Trung đoàn 320 và các đơn vị đánh bình định. Khu đã phân bổ cho Gò Công 2 đại đội, Mỹ Tho 1 tiểu đoàn, 5 đại đội, Kiến Phong 7 đại đội. Kiến Phong đã bổ sung đủ cho Tiểu đoàn 502, lập lại Tiểu đoàn 502B, tăng cường cho Mỹ An, Kiến Văn, Cao Lãnh mỗi nơi 1 đại đội đánh phá bình định. Còn Bến Tre, An Giang, Kiến Tường thì tự lực rút du kích, thanh niên bổ sung. Nhờ phong trào chuyển lên mạnh, được sự chấp thuận của Thường vụ Khu ủy, Bến Tre thành lập Trung đoàn Đồng Khởi và 1 tiểu đoàn độc lập để sẵn sàng bước vào đợt tiến công mới.

2 – Đợt một của chiến dịch

Ở các chiến trường phối hợp:

Ở An Giang, tỉnh quyết định diệt các đồn ngụy miền Nam và các đồn ngụy Lonnol nằm sát các khu căn cứ B1, B2, B3 biên giới để tạo thế phối hợp tiến công.

Đêm mồng 6 rạng ngày 7 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn 511 tập kích diệt gọn đại đội biệt kích ngụy ở Lợi Dân, tiếp theo diệt luôn đồn Sơn Tạ. Đêm 29 rạng ngày 21 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn 512 diệt chi khu Prey Thum của ngụy Lonnol, diệt 289 tên, thu 70 khẩu súng.

Đến cuối tháng 4 năm 1972, An Giang đã chuẩn bị kế hoạch tiến công và phát động quần chúng nổi dậy ở hướng trọng điểm của tỉnh là tuyến Đồng Ky, Khánh An, Khánh Bình, Phước Hưng thuộc huyện An Phú. Hai tiểu đoàn của tỉnh và lực lượng chính trị, binh vận tập trung vào trọng điểm.

Đêm 22 tháng 5 năm 1972, ta diệt và bức rút các đồn ở khu vực Đồng Ky, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội bảo an đến phản kích, diệt và phá rã toàn bộ phòng vệ dân sự tuyến Đồng Ky, An Khánh, Khánh Bình, Phước Hưng. Đồng bào phấn khởi, từng gia đình ra đón, lo tiếp tế, tải thương, đưa qua sông, ủng hộ cây làm làm công sự chiến đấu. Cán bộ móc nối với cơ sở nòng cốt, giao nhiệm vụ phát động quần chúng, đấu tranh chính trị, binh vận với địch.

Từ ngày 22 tháng 6 năm 1972, ta trụ lại đánh địch phản kích, giữ vững vùng mới mở. địch đưa các tiểu đoàn bảo an tiểu khu đến phản kích ác liệt. Cán bộ cơ sở vận động nhân dân tản cư ngược ra thị trấn An Phú đấu tranh chống bắn pháo, thả bom vào làng.

Đến ngày 26 tháng 6 năm 1972, địch phản kích ác liệt, lực lượng vũ trang rút về căn cứ B2. Qua đợt này, ta đã phá lỏng, phá rã thế bình định, kìm kẹp của địch, cán bộ chính trị, binh vận bám trụ lại được cơ sở, lực lượng du kích ở các xã dọc biên giới đã được củng cố, phong trào quần chúng chuyển lên một bước mới.