Đào Thái Sơn – CAO HỮU DỰC – NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN VỚI MIỀN PHÊN DẬU TÂY NINH

Đào Thái Sơn

Yêu thích ·31 Tháng 7 lúc 12:02 ·

CAO HỮU DỰC – NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN VỚI MIỀN PHÊN DẬU TÂY NINH

Khi nhắc đến việc tạo lập các thôn làng ở Tây Ninh người ta thường nhắc tới một nhân vật lịch sử đó là Tuyên phủ sứ Cao Hữu Dực. Vậy Cao Hữu Dực là ai ? Ông đã tạo lập những thôn làng nào ở vùng đất phên dậu này sau khi phủ Tây Ninh được chính thức thành lập ?

Tây Ninh trước thế kỷ XIX chủ yếu là rừng già và đầm lầy. Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước thì nơi đây mới bắt đầu thành lập các thôn xóm thưa thớt. Năm Minh Mạng thứ XVII, phủ Tây Ninh được chính thức thành lập với hai huyện Tân Ninh và Quang Hóa, các thôn làng vào thời ấy cũng chưa nhiều, mãi đến thời Thiệu Trị thì Tuyên phủ sứ Cao Hữu Dực mới chiêu mộ dân xiêu tán để lập thêm khoảng hai mươi sáu thôn làng nữa để bổ sung vào số lượng và làm tăng thêm sự phong phú cho các vùng đất trong phủ, để rồi phát triển cho tới ngày nay.

Theo Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của hai tác giả Nguyễn Quang Thắng – Nguyễn Bá Thế có ghi chép về Cao Hữu Dực như sau: “Cao Hữu Dực – Có sách chép là Cao Hữu Bằng hay Phùng, không rõ năm sinh, năm mất. Danh thần đời Minh Mạng, quê xã Thế Chí, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm Ất dậu 1825, đỗ hương tiến, làm đến Thượng thư bộ Binh, rồi quản lí cơ vụ thành Trấn Tây. Lại có lần phạm lỗi sơ thất, ông phải giáng làm Viên ngoại lang bộ Binh, nhưng sung chức Hiệp tân. Đầu đời Thiệu Trị (Mậu thân 1848), ông quyền lĩnh bố chánh sứ An Giang. Rồi vì việc thất thủ thành Trấn Tây, ông lại bị giáng chức, nhưng vẫn quyền lĩnh An sát sứ An Giang. Ít lâu, lại bổ làm Tuyên phủ sứ Tây Ninh, rồi thăng Tổng đốc An Hà. Khi mất, được truy tặng Hiệp biện đại học sĩ…”(sđd trang 81, NXB Văn hóa thông tin – 2013).

Qua đoạn văn trên cũng xin bổ sung thêm một chút về danh thần Cao Hữu Dực. Ông sinh năm 1799 và mất năm 1859, sở dĩ tên ông trước gọi Dực sao gọi Bằng là vì sau khi vua Tự Đức băng hà, lấy miếu hiệu là Dực Tông Anh Hoàng đế, để tránh phạm húy, con trai của ông là Cao Hữu Sung đã xin lấy tên tự để gọi, nên gọi là Cao Hữu Bằng. Còn Tuyên phủ sứ là người quản lý những vùng đất có người dân tộc sinh sống. Tây Ninh lúc bấy giờ có nhiều phum sóc Khmer, nên Cao Hữu Dực được triều đình phong Tuyên phủ sứ chính là vậy.

Trở lại vùng đất Tây Ninh giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX thì nhà Nguyễn đã lập con đường Sứ nối liền từ biên giới Tây Ninh tới Gia Định, mà đoạn quan trọng nhất đó chính là lộ 19, nay là đường tỉnh 784 và 782. Dọc theo con đường này chính là tổng Hàm Ninh (sau này chia ra Hàm Ninh Thượng và Hàm Ninh Hạ), sách Từ điển Địa danh hành chính Nam Bộ của Nguyễn Đình Tư có chép như sau: “Tổng thuộc huyện Tân Ninh, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Ðịnh, từ triều Thiệu Trị năm thứ nhất (1844) có 11 xã, thôn: Gia Lộc, Phước Hội, An Tịnh, Phước Chỉ, Ninh Ðiền, Long Vĩnh, Ðôn Thuận, Hiệp Ninh, Lộc Ninh, Lộc Hưng, Phước Hiệp. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực chiêu tập dân xiêu tán, lập thêm 12 thôn là An Hoà, An Thường, Ðịnh Bình, Ðịnh Thới, Gia Bình, Hoà Thuận, Hướng Hoá, Long Bình, Long Ðịnh, Thiên Thiện, Thuận Lý, Phước Mỹ. Tổng cộng là 23 xã thôn…” (sđd, trang 416, NXB Chính trị Quốc gia – 2008).

Ở tổng Triêm Hóa trước đó đã có các thôn như Cẩm Giang, Hiệp Thạnh, Hưng Mỹ, Phước Trạch, Thạnh Ðức, Trường Hoà…và Cao Hữu Dực đã thành lập thêm thôn Hòa Bình, phần đất này ngày nay nằm giữa hai xã Trường Đông và Trường Tây. Nhưng đến năm 1891 thì làng Hòa Bình nhập vào làng Trường Hòa, chính vì vậy mà ngày này có tới hai ngôi đình đó là đình Trường Đông và đình Trường Tây, một trong hai ngôi đình này là đình của làng Hòa Bình xưa.

Ngoài hai tổng kể trên, Cao Hữu Dực còn lập các thôn làng bên kia sông Vàm Cỏ Đông thuộc tổng Giai Hóa. Từ điển Địa danh hành chính Nam Bộ của Nguyễn Đình Tư cho biết: “Tổng thuộc huyện Quang Hoá, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Ðịnh từ năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) có 5 thôn. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực chiêu tập dân lưu tán, lập thêm 2 thôn Long Khánh, Tiên Thuận. Trải qua triều Tự Ðức, đến đầu Pháp thuộc đổi thuộc huyện Tân Ninh cùng phủ gồm có 7 thôn: Ninh Ðiền, Long Chữ, Long Giang, Long Khánh, Long Thuận, Tiên Thuận, Tiên Ðiền…” (sđd, trang 401, NXB Chính trị Quốc gia – 2008).

Bên cạnh Giai Hóa là tổng Mỹ Ninh, Cao Hữu Dực lập thêm 11 thôn đó là:“Tổng thuộc huyện Quang Hoá, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Ðịnh, từ năm Thiệu Trị thứ I (1841), không rõ bao nhiêu xã, thôn. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực chiêu tập dân xiêu tán lập thêm 11 thôn là: An Thạnh, Hướng Hoá, Khang Ninh, Long Thạnh, Long An, Phước Hưng, Phước Bình, Thới Ðịnh, Thuận Lý, Vĩnh An, Vĩnh Tuy… đến đầu Pháp thuộc đổi thuộc huyện Tân Ninh, hạt Thanh tra Tây Ninh, giải thể phần lớn các xã thôn ở vùng rừng núi không kiểm soát được… Năm 1871 còn lại 4 thôn: An Thạnh, Lợi Thuận, Phước Lưu, Thạnh Phước”.(Từ điển Địa danh hành chính Nam Bộ – Nguyễn Đình Tư, trang 692, NXB Chính trị Quốc gia – 2008).

Từ các vấn đề trên cũng xin nói thêm một vấn đề là gần đây ở Tây Ninh có vài nhà viết về cụ Trần Văn Thiện và dựa theo Tây Ninh Xưa và Nay của Huỳnh Minh mà cho rằng cụ Thiện là người lập ra xứ Ngũ Long là chuyện không tưởng. Bởi Long Giang lập từ 1836 cùng thời với phủ Tây Ninh, Long Chữ lập 1838, còn Long Khánh, Tiên Thuận thì do Cao Hữu Dực lập, còn Long Phú thì lập từ 1837…thì cụ Thiện lên Tây Ninh năm 1844 thì làm sao cụ là người thành lập các thôn làng kể trên cho được ?

Nhưng có một điều đáng nói hơn là hiện này 41 ngôi đình thần của Tây Ninh không có ngôi đình nào thờ Cao Hữu Dực đúng nghĩa cả. Đây là một câu hỏi lớn cho những người làm văn hóa và những Ban Hộ Đình cho vùng đất Tây Ninh.

Tóm lại, và có thể khẳng định rằng Cao Hữu Dực là một nhân vật lịch sử có công lớn với đất nước nói chung và Tây Ninh nói riêng. Khi ông mất, vua Tự Đức có dụ rằng: “Cao Hữu Bằng kịp thờ ba triều, một lòng cẩn hậu, trải coi giữ nhiều địa phương, phủ trị đúng phép, dân man di mến phục. Chính đương lúc nơi biên cương quan trọng, thiết tha nhờ viên ấy giúp đỡ… Tặng cho hàm Hiệp biện đại học sĩ, cấp cho tiền tuất; gia cấp cho ấm tướng quốc, sa màu và vải lụa, cùng năm trăm quan tiền để chi tiêu về việc làm ma. Lại sai hộ tống quan tài về quê và sai quan Khâm mạng đến tế…”. Chỉ tiếc là Tây Ninh hiện nay chưa có hội thảo khoa học nào để nhìn lại công lao của ông và cũng chưa có cơ sở thờ tự nào tưởng niệm ông một cách đúng nghĩa.

ĐÀO THÁI SƠN