Đào Thái Sơn – ĐỊA DANH VÔ TÀ ÂN TRONG SỰ KIỆN NGUYỄN CƯ TRINH ĐƯA NGƯỜI CHĂM QUY HỒI CỐ QUỐC NĂM 1755 VỐN Ở ĐÂU

Đào Thái Sơn

特别关注 ·12小时前12小时 ·

ĐỊA DANH VÔ TÀ ÂN TRONG SỰ KIỆN NGUYỄN CƯ TRINH ĐƯA NGƯỜI CHĂM QUY HỒI CỐ QUỐC NĂM 1755 VỐN Ở ĐÂU

Vô Tà Ân [無邪恩] là một địa danh xuất hiện trong một số sử liệu có liên quan đến sự kiện Nguyễn Cư Trinh rước 5000 người Chăm từ Chân Lạp về nước năm 1755. Nhưng cho tới nay, chưa thấy sách nào chú rõ là Vô Tà Ân ở đâu. Trong bài viết này, chúng tôi xin đưa ra vài kiến giải xem như góp thêm một phần nhỏ bé về câu chuyện của gần ba trăm năm trước.

Về sự kiện Nguyễn Cư Trinh đưa 5000 người Chăm từ Chân Lạp hồi hương được chép khá nhiều trong các bộ sử nổi tiếng như Đại Việt sử ký tục biên, Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Gia Định Thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), Đại Nam thực lục tiền biên (Quốc sử quán Triều Nguyễn). Cụ thể trong Đại Nam thực lục chép như sau: “Ất Hợi, năm thứ 17 [1755], mùa xuân, thống suất Thiện Chính đem quân về đồn Mỹ Tho trước, ra lệnh cho người Côn Man ở Kha Khâm đem bộ lạc và xe cộ đến đóng ở Bình Thanh. Đi đến Vô Tà Ơn bị quân Chân Lạp hơn vạn người đuổi theo đánh úp. Người Côn Man thế bí, xếp xe lại làm lũy để chống giữ và cáo cấp. Thiện Chính bị chằm rừng ngăn trở không ứng cứu được. Cư Trinh tức thì đem năm đội binh đến cứu. Quân Chân Lạp phải rút lui. [Trinh] bèn hộ vệ hơn 5000 trai gái Côn Man về đóng ở chân núi Bà Đinh, rồi tâu hặc Thiện Chính về tội bỏ lỡ cơ hội và bỏ rơi dân mới quy phụ. Chúa giận triệu Thiện Chính về, giáng xuống làm cai đội” (Đại Nam thực lục tiền biên, quyển X, trang 164, tập 1, NXB Giáo Dục 2006, phiên dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, hiệu đính Đào Duy Anh). Và “Ất Hợi, năm thứ 17 [1755]” ở trên thì sách Gia định thành thông chí chép của Trịnh Hoài Đức có ghi rõ năm hơn: “Ất hợi thập bát niên, Lê Cảnh Hưng thập lục niên, Đại Thanh Càn Long thập lục niên” (乙亥十八年,黎顯宗景興十六年, 黎顯宗景興十六年 – Ất Hợi, năm thứ 18 [1755], Lê Cảnh Hưng năm thứ 16, Đại Thanh Càn Long năm thứ 20).

Trong đoạn trên, có các địa danh cần lưu ý là Kha Khâm, Bình Thanh và Vô Tà Ơn (Ân). Cả ba địa danh này đều có liên quan trực tiếp đến kết quả cuối cùng là Nguyễn Cư Trinh đem người Chăm đóng ở chân núi Bà Đinh (Bà Đen).

Thứ nhất, về địa danh Kha Khâm, có tài liệu ghi là Kha Tung, lâu nay nhiều người cho đó là Kà Tum chính là khu vực trung tâm xã Tân Đông – Tây Ninh ngày nay. Trong sách Địa chí Tây Ninh cũng có chép như sau:“Lịch sử thế kỷ XVIII cũng ghi nhận một trục giao thông quan trọng khác từ Kà Tum về núi Bà Đen. Đó là đường chuyển quân của Nguyễn Cư Trinh vào năm 1755 với quân số lớn cùng người Côn Man và xe cộ từ Kha Tung (Kà Tum) xuống Vô Tà Ơn rồi đóng đồn ở Bình Thạnh. Bị quân Chân Lạp hơn vạn người đuổi đánh, người Côn Man xếp xe làm lũy để chống cự. Cư Trinh đem 5 đội quân đến cứu, quân Cao Miên không dám đánh. Cư Trinh bèn đón người Côn Man cả trai lẫn gái hơn ba vạn người đến đóng ở chân núi Bà Đinh (Bà Đen). Bên cạnh đó sách Gia Định Thành thông chí do Phạm Hoàng Quân dịch cũng có chú thích ở trang 448 tương tự “Đại Nam thực lục tiền biên (quyển 10), bản dịch VSH phiên âm là Kha Khâm và chú tức Katum trên bản đồ, ở phía bắc Tây Ninh”.

Vấn đề ở đây là địa danh Kha Khâm / Kha Tung hoàn toàn không phải là Kà Tum. Bởi vì Kà Tum chỉ là một phum Khmer nhỏ và chỉ toàn là người Khmer ở từ xưa đến nay, khu vực này chưa bao giờ có người Chăm đến ở thì lấy đâu ra Nguyễn Cư Trinh đến rước ! Thực ra Kha Khâm / Kha Tung chính là từ phiên âm địa danh Tbong Khmum [ត្បូងឃ្មុំ]. Địa danh này rất nổi tiếng và từng là không gian diễn ra câu chuyện có thật Tum Tiêu, một kiệt tác văn học của Vương quốc Camphuchia. Tbong Khmum trước đây là huyện thuộc tỉnh Kampong Chàm có rất nhiều người Chăm sinh sống từ mấy trăm năm trước, nay Tbong Khmum đã tách ra thành tỉnh riêng, giáp ranh với các xã Tân Hòa, Tân Đông, Tân Lập của Tây Ninh ngày nay.

Thứ hai, chính vì Nguyễn Cư Trinh rước người Chăm từ Tbong Khmum nên mới đi qua xứ Vô Tà Ân và bị quân Chân Lạp đuổi theo đánh úp. Như vậy Vô Tà Ân chính là một địa danh nằm trong lãnh thổ Chân Lạp nói chung và Tbong Khmum nói riêng từ xưa kia. Vậy, Vô Tà Ân [無邪恩] nghĩa là gì? Xin thưa rằng Vô Tà Ân là cách phiên âm từ Vott Ta Ăm [វត្តតាអាំ] tức là Chùa Tà Ăm. Chùa Tà Ăm thuộc làng Tà Ăm [តាអាំ] xã Kak [កក់] huyện Ponhea Kreak [ពញ្ញាក្រែក] tỉnh Tbong Khmum [ត្បូងឃ្មុំ]. Chùa Tà Ăm – Vô Tà Ân – cách biên giới xã Tân Lập – huyện Tân Biên trước đây chừng 02 Km. Đứng trên đường vành đai biên giới 792 nhìn thấy rõ ngôi chánh điện của quần thể chùa Tà Ăm bên nước bạn, tiếng loa tụng kinh của các sư bên ấy bên đây vẫn nghe mồn một. Các vị già làng, Kru Achar lớn tuổi từng qua lại Tbong Khmum cho biết chùa Tà Ăm là một ngôi chùa cổ có từ hơn ba trăm năm trước, thời chiến tranh hư hại nhiều, qua bao lần trùng tu mới có dáng vẻ như hiện nay.

Và cũng xin nói thêm, nếu như căn cứ theo cách chú thích của Phạm Hoàng Quân “Vô Tà Ân phỏng định là tên ký âm địa danh Bos Krasăng, nay là tên một phum (xã), phum Bos Krasăng thuộc sork (huyện) Svay Teap, tỉnh Svay Riêng, Camphuchia” (Gia Định Thành thông chí – chú thích 80 – trang 448) và địa danh Kà Tum cũng do ông chú ở trên thì tréo ngoe hết cả. Thứ nhất, Bos Krasăng thì làm sao thành Vô Tà Ân cho được ! Thứ hai, cớ gì Nguyễn Cư Trinh vừa điều hành quân đội vừa hộ tống 5000 người Chăm phải đánh cái vòng xa tới 150km đường rừng từ Svay Teap đến tận Ponhea Kreak để về nước ! Thứ ba, là Nguyễn Cư Trinh đem 5000 người Chăm về đóng ở chân núi Bà Đen mục đích là làm trái độn “dĩ Man công Man” để phòng quân Chân Lạp tấn công từ hướng bắc Tây Ninh, khoảng cách tầm 30km là quá hợp lý, không thể dùng người Chăm đóng ở chân núi Bà Đen mà phòng quân Chân Lạp ở Svay Riêng được, đó không phải là kế sách bởi nó không phù hợp với thực tế lúc bấy giờ.

Thứ ba, là địa danh Bình Thanh được nhắc ở trên không phải là Bình Thạnh ở Trảng Bàng như Địa chí Tây Ninh hay Phạm Hoàng Quân đã chú trong bản dịch Gia Định Thành thông chí “Bình Thanh phỏng định là khu vực xã Bình Thạnh huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh…” (Chú thích 79 – Trang 448). Bởi khu Bình Thạnh xa xưa có tên là phum Prey Chet, nghĩa là phum rừng chuối, người Khmer sinh sống, còn địa danh hành chính Bình Thạnh chỉ mới xuất hiện từ năm 1903 thì không thể đi vào sử liệu của 270 năm trước được. Thực ra, địa danh Bình Thanh là tên một làng của người Việt thuộc tổng Bình Cách. Tổng Bình Cách chính thức được lập vào thời Gia Long (huyện Thuận An, phủ Tân Bình), nhưng các làng thôn trong tổng này đã có từ thế kỷ XVII do những lưu dân người Việt thành lập từ giai đoạn khai hoang mở cõi. Ngày nay khó có thể xác định chính xác là Bình Thanh ở đâu, nhưng Bình Cách thì phần lớn ven sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, thuộc Long An và Tây Ninh trước đây.

Như vậy, căn cứ vào đoạn sử liệu trong Đại Nam thực lục thì kế hoạch là Thiện Chính và Nguyễn Cư Trinh sang Kha Khâm – Chân Lạp rước người Chăm về cố quốc và cho định cư ở Bình Thanh. Nhưng Thiện Chính trễ nảy, cho nên, đoàn người Chăm đến Vô Tà Ân thì bị quân Chân Lạp đánh úp, Nguyễn Cư Trinh đốc năm đội binh đến cứu kịp thời và đưa 5000 người Chăm về định cư ở chân núi Bà Đen chứ không đem về Bình Thanh như dự tính. Bởi Nguyễn Cư Trinh thấy được tình hình lúc bấy giờ, chân núi Bà Đen gần biên giới, lấy người Chăm để phòng quân bên kia biên giới sang quấy nhiễu là phù hợp nhất. Nếu phân tích không rõ hướng đi này, xác định không đúng địa danh thì không khác nào sa vào ma trận.

Một điểm cần lưu ý, vấn đề Nguyễn Cư Trinh cho người Chăm định cư ở chân núi Bà Đen chính xác là khu vực nào ? Bởi xưa kia quanh chân núi Bà Đen có rất nhiều phum sóc Khmer sinh sống, mà người Khmer theo Phật giáo còn người Chăm thì theo Hồi giáo, khó mà sống gần nhau được. Cụ thể địa bàn người Chăm định cư ban đầu đó chính là khu Bàu Bắc (ấp Tân Trung A,B xã Tân Hưng trước đây, nay là xã Tân Phú – Tây Ninh). Xa xưa nơi đây toàn là rừng già và bưng bàu cách các phum Khmer vùng Khedol khá xa, tôn giáo phong tục khác nhau nên không qua lại, không xảy ra các sự cố sắc tộc…Rồi dần dà sau đó bà con Chăm các thế hệ sau mới tiến dần ra hai hướng, hướng thứ nhất là ra tỉnh lị Tây Ninh, buôn bán trao đổi hàng hóa với người Kinh và lập làng gọi là Chăm Đông Tác, hướng thứ hai là tiến lên phía bắc như Bàu Châu É, Suối Dây, Hội Thanh, Thạnh Thọ…để khai thác lâm sản và trồng nông sản…Ngày nay, người Chăm Tây Ninh sống chủ yếu ở bảy khu vực kể trên, ký ức mấy trăm năm trước hầu như không ai còn nhớ gì cả.

Qua những gì chúng tôi trình bày ở trên, xin tóm lại Kha Khâm chính là Tbong Khmum – Kompong Chàm, nơi mà Chăm kiều sinh sống nhiều nhất ở Camphuchia xưa kia. Trên con đường hồi hương vể Việt Nam thì bị đánh úp ở Vô Tà Ân, mà vô Tà Ân là cách phiên âm từ Vott Ta Ăm tức là Chùa Tà Ăm. Chùa Tà Ăm thuộc phum Tà Ăm xã Kak huyện Ponhea Kreak tỉnh Tbong Khmum ngày nay. Lúc bấy giờ biên giới hai nước ở Bắc Gia Định chưa phân định một cách rõ ràng, nên quân Chân Lạp thường qua bên này quấy nhiễu, hai bên xảy ra chiến sự khá nhiều, nên Nguyễn Cư Trinh để 5000 người Chăm định cư ở chân núi Bà Đen là kế sách hay, phòng chuyện lâu dài vậy.

ĐÀO THÁI SƠN