Bến Tre / Kâmpóng Rœ̆ssei / កំពង់ឫស្សី : bến (cảng) tre
- កំពង់ ( n ) [kɑmpʊəŋ]: bến sông, cảng
- ឫស្សី ( n ) [rɨhsəy] : cây tre

Bến Tre / Kâmpóng Rœ̆ssei / កំពង់ឫស្សី : bến (cảng) tre

Vĩnh Lợi là một huyện ở phía đông nam tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam.
Vĩnh Lợi chữ Hán là 永利 : mãi mãi thuận lợi
Người Khmer gọi Vĩnh Lợi là ព្រែកជ្រៅ / Prêk Chrŏu /: rạch sâu, sông sâu
Chưa rõ ở Vĩnh Lợi có có con rạch nào liên quan tới tên gọi này.
Chùa tọa lạc tại ấp Biển Đông A, xã Vĩnh Trạch Đông, thị xã Bạc Liêu, cách trung tâm thị xã 12 km về hướng đông nam.
Tên chính thức là chùa Komphisako, hay còn gọi là chùa Prêk Sh’râu (nghĩa là Sông Sâu, chữ Xiêm Cán, tiếng Tiều, cũng cùng nghĩa này).
An Biên là một huyện của Việt Nam, nằm trong tỉnh Kiên Giang (trước đó là tỉnh Rạch Giá). Huyện lỵ là thị trấn Thứ Ba.
An Biên chữ Hán là 安邊 hoặc 安边 : biên giới an bình
Người Khmer gọi An Biên là ព្រែកបី / Prêk Bei /: con kênh thứ 3
Kiên Hải là một huyện đảo của tỉnh Kiên Giang nằm ngoài khơi vùng biển Tây Nam Việt Nam. Huyện Kiên Hải có 4 xã là Hòn Tre (trung tâm hành chính), Lại Sơn, An Sơn và quần đảo Nam Du.
Kiên Hải chữ Hán là 堅海 : kiên cường giữa biển cả.
Người Khmer gọi Kiên Hải là: ប្រជុំកោះ / Prâchŭm Kaôh /: quần đảo
Mỹ Xuyên là một huyện của tỉnh Sóc Trăng.
Chữ Hán: 美川 Mỹ Xuyên : dòng sông đẹp.
Tiếng Khmer gọi Mỹ Xuyên là / បាយឆៅ / Bay Chhau /, tức xứ Cơm Sống.
Tham khảo sự tích Bãi Xàu:
http://hoisuhoctphcm.com.vn/2013/12/thuong-cang-bai-xau-xua-va-nay/
Do rạch Bãi Xàu có từ lâu đời nên – cùng với cả vùng đất này – có rất nhiều tên gọi[3]. Trước năm 1757, vùng đất này còn thuộc Thủy Chân Lạp nên được gọi là “Bày-chau”, tiếng Việt phiên âm là “Bãi Xàu”. Truyện cổ Khmer kể về sự tích nàng Chanh vốn là cung phi của vua Thủy Chân Lạp, bị vua nghi oan cho quân lính đuổi bắt. Nàng giong thuyền chạy từ sông Hậu, theo rạch Bãi Xàu để chạy ra cửa biển Mĩ Thanh. Đến chỗ giáp nước (thị trấn Mĩ Xuyên ngày nay) nàng dừng lại nấu cơm nhưng cơm chưa kịp chín thì quan quân đã đuổi đến nơi, nàng phải bỏ nồi cơm sống mà chạy tiếp, giữa đường nàng vất hết tư trang, kể cả cái ống nhổ bằng vàng. Khi quan quân đuổi ra tới cửa biển thì nàng cùng đường, phải nhảy xuống sông tự tử. Từ đó sông này được gọi là vàm nàng Chanh, người Việt nói trại thành “Mĩ Thanh”. Chỗ nàng bỏ nồi cơm sống gọi là “Bày-chau” (nghĩa là [xứ] “cơm sống”), chỗ nàng vứt cái ống nhổ gọi là “Cần Tho” (ống nhổ), người Việt nói trại thành “Dù Tho”[4].
Bình Minh là một Thị xã thuộc tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam.
Bình minh theo nghĩa tiếng Việt (hoặc Hán-Việt) là thời điểm sáng sớm, lúc Mặt Trời mới mọc.
Người Khmer gọi địa danh Bình Minh là អង្គុលី / Ângkŭli /, ngón tay.
Tiếng Phạn (Sanskrit) gọi inch – một loại đơn vị đo theo chiều dài ngón tay – là angulam inch hoặc anguli finger. Tiếng Tamil cũng gọi inch là அங்குலம் angulam, tức ngón tay.
Long Phú là một huyện của tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam.
Ca khúc Du Kích Long Phú
http://mp3.zing.vn/bai-hat/Du-Kich-Long-Phu-Cao-Minh/ZWZBWIA8.html
Chữ Hán, 隆富 Long Phú:
Người Khmer gọi Long Phú là អណ្ដូងទឹក / Ândong Tœ̆k /, tức cái giếng nước.
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc duyên hải vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Việt Nam.
Theo Wikipedia
Tên gọi “Bạc Liêu”, đọc giọng Triều Châu là “Pô Léo”, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển. Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bạc” và Léo phát âm là “Liêu”. Ý kiến khác lại cho rằng “Pô” là “bót” hay “đồn”, còn “Liêu” có nghĩa là “Lào” (Ai Lao) theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào. Còn đối với người Pháp, họ căn cứ vào tên Pô Léo theo tiếng Triều Châu nên họ gọi vùng đất này là Phêcheri – chaume có nghĩa là “đánh cá và cỏ tranh”. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Khmer Po Loenh, nghĩa là cây đa cao.
Sa Đéc là một thành phố trực thuộc tỉnh của tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam.
Tiếng Khmer gọi Sa Đéc là ផ្សារដែក / Phsar Dêk /, nghĩa là chợ sắt hoặc khu chợ bán dụng cụ sắt thép.

Nông cụ sắt thép ផ្សារដែក chợ sắt
Kiên Lương là một huyện duyên hải ở tỉnh Kiên Giang.
Chữ Hán 堅良 Kiên Lương:
Người Khmer gọi Kiên Lương là ភ្នំម្លូ / Phnum Mlu /, tức Núi Trầu.