Cá Vàng cùng với Nguyễn Thanh Lợi.
Yêu thích ·31 Tháng 7 lúc 09:59 ·
ĐÔI ĐIỀU VỀ TỪ “THỨ” (次) Ở MIỆT THỨ – KIÊN GIANG
(Cập nhật ngày 8/8/2025)
Miệt Thứ có thể hiểu là lưu vực của các con “rạch Thứ” (tạm gọi như vậy) đổ ra vịnh Thái Lan. Lưu vực đó ngày nay (trước 1/7/2025) nằm trong địa bàn 2 huyện An Biên và An Minh tỉnh Kiên Giang.
Có nhà cho rằng, Miệt Thứ gồm 10 con rạch, từ rạch Thứ Hai đến rạch Thứ Mười Một; trong đó 6 con rạch từ Thứ Hai đến Thứ Bảy thuộc huyện An Biên (huyện lỵ là thị trấn Thứ Ba), 4 con rạch từ Thứ Tám đến Thứ Mười Một thuộc huyện An Minh (huyện lỵ là thị trấn Thứ Mười Một).
Lại có nhà cho rằng, Miệt Thứ gồm 11 con rạch, từ rạch Thứ Nhứt đế rạch Thứ Mười Một, và sau năm 1924 khi thực dân Pháp đào con kinh xáng Xẻo Rô-Cán Gáo thì danh từ “Thứ” mới xuất hiện.
Theo Bản đồ địa hình hạt tham biện Rạch Giá 1895 (Plan topographique de l’arrondissement de Rach Gia 1895) (ở sau gọi tắt là Bản đồ Rạch Giá 1895[1]), trong địa bàn làng Tây Tặc[2] và làng Đông Thái (đều thuộc tổng Thanh Bình, hạt tham biện Rạch Giá) có 10 con “rạch Thứ” sau đây:
– Trong làng Tây Tặc có: “Rạch thứ Nhứt”, “Rạch thứ Hai”, “Rạch thứ Ba”, “Rạch thứ Tư”.
– Trong làng Đông Thái có: “Rạch thứ Năm”, “Rạch thứ Sáu”, “Rạch thứ Bảy”, “Rạch thứ Tám”, “Rạch thứ Chín”, “Rạch thứ Mười”.
Ngoài 10 rạch Thứ, trên bản đồ này còn vẽ và ghi tên một số xẽo, đó là: “X. Phượng”, “X. Dữa” (có thể là Giữa bị viết sai chính tả), “X. bà Ly” (3 xẽo này nằm trong khoảng giữa rạch Thứ Năm và rạch Thứ Sáu); “X. Đôi”, “X. Quan”, “X. Bầu” (3 xẽo này nằm trong khoảng giữa rạch Thứ Bảy và rạch Thứ Tám).
Đặc biệt là trên bản đồ này còn ghi tên 6 “xóm Thứ”[3]: “Xóm thứ Nhứt”, “Xóm thứ Hai”, “Xóm thứ Ba”, “Xóm thứ Năm”, “Xóm thứ Sáu”, “Xóm thứ Mười”.
Như vậy, THỨ chẳng những là thành tố trong tên các con rạch, mà còn là thành tố trong tên các xóm.
Vàm (cửa) của 10 con “rạch Thứ” nêu trên, trong Thông quốc diên cách hải chử 1840 chép theo thứ tự từ dưới lên trên, lần lượt là: “次𨑮海門” (Thứ Mười hải môn), “次𢒂海門” (Thứ Chín hải môn), “次𠔭海門” (Thứ Tám hải môn), “次𠤩海門” (Thứ Bẩy hải môn), “次𦒹海門” (Thứ Sáu hải môn), “次𠄼海門” (Thứ Năm hải môn), “次𦊛海門” (Thứ Tư hải môn), “次𠀧海門” (Thứ Ba hải môn), “次𠀧海門” (Thứ Hai hải môn), “次蔑海門” (Thứ Một hải môn).
Còn trong Xiêm La quốc lộ trình tập lục 1810 chỉ chép: “次𢒂 – 次𨑮海門” (Thứ Chín – Thứ Mười hải môn).
Mặc dù trong sách vừa nêu chỉ chép tên 2 cửa biển Thứ Chín và Thứ Mười, nhưng chỉ chừng đó thôi, chúng ta cũng có thể nói rằng từ THỨ (次) xuất hiện trễ lắm là vào năm 1810.
10 con rạch, từ Thứ Nhứt đến Thứ Mười, trong sách Gia Định thành thông chí 1820 (Quyển 2: Sơn xuyên chí, mục Trấn Hà Tiên), Trịnh Hoài Đức gọi chung là “十溝” (Thập Câu). Trong Gia Định thành thông chí 1820 (Quyển 3: Cương vực chí, mục Trấn Hà Tiên), tên rạch Thứ Nhứt được viết là “次一” (Thứ Nhứt). Lúc đó, con rạch này thuộc tổng Thanh Giang.
Cũng theo Gia Định thành thông chí 1820, tổng Thanh Giang (huyện Kiên Giang, trấn Hà Tiên) có các thôn/ xã sau đây: thôn Vĩnh Thuận, thôn Vĩnh Hòa, thôn Thới An và xã Đông Yên.
Trong Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Hà Tiên), được cho là biên soạn vào đời Tự Đức, 10 con rạch từ Thứ Nhứt đến Thứ Mười cũng được gọi là “十溝” (Thập Câu) và cho biết, Thập Câu thuộc 2 huyện Kiên Giang và Long Xuyên.
Nhiều nhà cho rằng, “Miệt”, trong “Miệt Thứ”, là từ được dùng để gọi một nơi nào đó xa xôi, hẻo lánh, cách trở…, nhưng theo chúng tôi, từ “miệt” thường được hiểu là miền, xứ, khu vực, vùng… ví dụ như: miệt vườn, miệt ruộng, miệt Năng Gù, miệt Tháp Mười[4]… Vả lại, có dịch giả dùng từ “miệt” để đối dịch từ “région” trong tiếng Pháp, ví dụ như région de Baria, région d’Honquang, région de Camau… được đối dịch là miệt Bà Ria, miệt Hớn Quản, miệt Cà Mau… Như vậy, từ “miệt” đâu có hàm nghĩa xa xôi, hẻo lánh, cách trở…
————-
[1] Bản đồ Rạch Giá 1895: Vào năm 1895, hạt tham biện (thường gọi tắt là hạt) Rạch Giá chỉ có 4 tổng: Kiên Hảo, Kiên Định, Giang Ninh, Thanh Giang. Đầu năm 1900, hạt đổi thành tỉnh (province). Do Nghị định ngày 25-5-1901 về việc chia 4 tổng cũ thành 6 tổng mới nên tỉnh Rạch Giá có thêm 2 tổng mới là Kiến Tường và Thanh Bình. Tiếp theo là Nghị định ngày 18-4-1905 về việc đổi tên làng Vĩnh Thuận Thôn (tổng Thanh Giang) thành làng Vĩnh Viễn. Nhưng vì trên Bản đồ Rạch Giá 1895 ghi nhận 6 tổng Kiên Hảo, Kiên Định, Giang Ninh, Thanh Giang, Kiên Tường, Thanh Bình, và trong tổng Thanh Giang lại có làng Vĩnh Thuận Thôn, nên chúng tôi cho rằng, bản đồ địa hình này được vẽ vào năm 1895, còn tên và địa giới các tổng, các làng đã được cập nhật trong khoảng thời gian từ sau ngày Nghị định ngày 25-5-1901 có hiệu lực và trước ngày Nghị định ngày 18-4-1905 có hiệu lực.
[2] Làng Tây Tặc: Vốn là thôn Tây Yên. Do cư dân thôn Tây Yên và thôn Đông Yên tích cực tham gia công cuộc đánh chiếm đồn Kiên Giang nên sau khi Nguyễn Trung Trực bị xử chém ngày 27/8/1868, hai thôn này bị đổi tên thành Tây Tặc và Đông Tặc (“Tặc” 賊 có nghĩa là giặc). Đến năm 1876, thôn đổi gọi là làng (Village). Theo Bản đồ Rạch Giá 1895, trong làng Tây Tặc có 2 Nhà việc (Maison commune): 1 ở bên trờ trái “Rạch thứ Nhứt” và 1 ở bên bờ phải “Rạch thứ Ba”. Do lẽ này mà chúng tôi ngờ rằng, “Rạch thứ Nhứt” và Nhà việc bên bờ trái rạch này thuộc làng Đông Tặc. Vào khoảng đầu năm 1909, 2 làng Tây Tặc và Đông Tặc được lấy lại tên cũ là Tây Yên và Đông Yên (theo Nghị định ngày 15-12-1908).
[3] Xóm Thứ: Theo chúng tôi, tên các xóm Thứ Nhứt, Thứ Hai… là tên “ăn theo” tên các rạch Thứ Nhứt, Thứ Hai…, tương tự như ở “Rạch Rô Ghe” có “Xóm Rô Ghe”, ở “Rạch Mương Đào” có “Xóm Mương Đào”, ở “Rạch Cái Su” có “Xóm Cái Su”, v.v…
[4] Miệt Tháp Mười: Ca dao có câu: “Ai ơi về miệt Tháp Mười, Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.”


