Đào Thái Sơn
Yêu thích ·28 Tháng 7 lúc 15:41 ·
ĐỊA DANH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LOÀI VOI Ở TÂY NINH
Tây Ninh xưa kia hầu hết là rừng già và đầm lầy, là nơi cư ngụ của muôn thú, cho nên vùng đất này có nhiều địa danh liên quan đến động vật là điều rất hiển nhiên như Đảo Nhím, Bàu Cheo, Bàu Sấu, Bưng Trao Trảo…đặc biệt là loài voi cũng xuất hiện khá nhiều trong các địa danh xưa. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi xin sơ lược qua vài nét như sau.
Ấp Voi là một ấp của xã An Thạnh thuộc huyện Bến Cầu ngày nay. Ấp này có đường Xuyên Á chạy qua thẳng đến khẩu Mộc Bài. Đây là con đường có từ rất xa xưa nối liền vùng Gò Dầu Thượng với Chân Lạp. Chính vì vậy mà thời Nhà Nguyễn các sứ thần Chân Lạp thường cỡi voi đi cống sứ qua đây. Rất có thể nơi này là một trạm dừng chân thời đó nên mới hình thành địa danh có liên quan đến loài voi, được dân gian gìn giữ cho tới ngày hôm nay.
Chùa Bàu Tượng – rạch Bàu Tượng cũng thuộc về huyện Bến Cầu nhưng nằm ở ấp Xóm Khách xã Long Giang. Chùa Bàu Tượng có tên chữ là Bửu Long Tự. Chùa được xây dựng năm 1833 do các vị như sư Hương Đăng, sư Hiếu, sư Nhật Ân sáng lập. Chùa này sở dĩ có tên là Bàu Tượng bởi nó được dựng trên một gò đất ở khu Bàu Tượng. Xưa kia đây là rừng rậm, có nhiều đầm lầy, voi hay kéo về uống nước và tắm nên người dân mới quen gọi như vậy.
Theo lời giới thiệu tại chánh điện thì: “ Ngôi chùa Bàu Tượng hình thành vào khoảng thời Minh Mạng ( 1833-1834). Trải qua các đời trụ trì như: thầy Hương Đăng, sư Hiếu, thủ tọa Xẵng, thầy Ký Nhậm, thầy Huế, sư Nhật Ân. Năm 1919 thầy tổ đời thứ tư là thầy Ký Nhậm xin thầy tổ chùa Núi ký pháp danh cho chùa Bàu Tượng là Bửu Long Tự. Trước năm 1945 sư Nhật Ân thường sang chùa Long Thọ bàn chuyện tuyên truyền Cộng sản trong dân. Cùng kết hợp với cán bộ của ông Hai Đẩu, Tư Nghĩa, ông Mạnh bí mật thành lập Công Nông Hội Đỏ. Đến năm 1945, chùa Bàu Tượng là điểm khởi nghĩa của toàn dân xã Long Giang, điểm huấn luyện quân sự, bệnh viện điều trị thương binh. Sư Nhật Ân cởi áo cà sa mặc quân phục chỉ huy lực lượng vũ trang xã đánh Pháp dưới hệ thống Chi đội 11 của Tỉnh ủy Tây Ninh do ông Trần Văn Đẩu chỉ huy. Ngày 19/02/1946, Pháp bắn và dội bom hủy diệt chùa Bàu Tượng. Ngôi chùa bị sụp đổ hoàn toàn. Ngôi chùa đã qua 4 lần trùng tu, sửa chữa ( 1989-1990-1991-1992) mới khang trang như ngày nay…”. Trải qua bao thăng trầm, hưng phế, ngày nay chùa Bàu Tượng có thể nói là một danh lam của xứ Bến Cầu. Chùa tọa lạc trên một gò đất với diện tích tầm 2,5 ha với tổng diện tích xây dựng quy mô khá lớn bao gồm cả kiến trúc cũ và kiến trúc mới. Khu kiến trúc cũ hình chữ “Nhị”, gồm chánh điện và hậu điện thờ Tam thế Phật, Tiêu Diện Đại Sỹ, Vi Đà Bồ Tát, Phật Chuẩn Đề, Đạt Ma Sư Tổ… Sau chánh điện có một bàn thờ tổ, trên có 4 bài vị theo thứ tự như sau : trên “ Cố sư tổ Lê Văn Hiếu – Liễu đạo 19/2/1902”, dưới “ Cố hòa thượng Thượng Nhựt Hạ Ân – Dương Thiện Nhâm – Liễu đạo 17/2/1948” ; bên trái “ Cố tánh sư Huỳnh Văn Ký – Liễu đạo 1930”, bên phải “ Cố tánh sư Trang Văn Xẵng – Liễu đạo 1918”. Các vị được tôn là Tổ khai sơn tạo tự Bồ Tát.
Rỗng Tượng – địa danh này ở Tây Ninh có ba nơi. Thứ nhất, là xóm Rỗng Tượng thuộc làng Trường Hòa, nay là xã Trường Hòa huyện Hòa Thành. Xóm Rỗng Tượng này, ngày nay thuộc ấp Trường Xuân, nhưng dấu vết xưa đã không còn nữa. Thứ hai, là cầu Rỗng Tượng bắc qua con rạch cùng tên thuộc xã Trí Bình của huyện Châu Thành. Con rạch này bắt nguồn từ hướng Tân Biên chảy qua An Cơ – Hảo Đước – Trí Bình và cuối cùng đổ ra sông Vàm Cỏ Đông. Thứ ba, và nổi tiếng hơn cả là ấp Rỗng Tượng thuộc xã Thanh Phước của huyện Gò Dầu ngày nay.
Về từ “Rỗng” trước đây các sách ghi là “Rỏng”. Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng là “Đường khuyết xuống, đường mương nhỏ – Đường rỏng” (ĐNQATV – trang 264, tập II). Còn gần hơn, thì sách Phương ngữ Nam Bộ ghi chép và chú giải của Nam Chi – Bùi Thanh Kiên, tập II, trang 1198, giảng “Rỏng : đường rỏng – đường khuyết xuống, đường rẽ ra để phân biệt hai vùng, hai phần” (NXB Hội Nhà văn 2014). Về địa danh Rỗng Tượng, sách Tây Ninh Xưa và Nay của Huỳnh Minh ghi là “Rổng” và có chép về Rổng Tượng hay Láng Tượng như sau: “Đất Tây Ninh ngày xưa còn là rừng già dày đặc, có nhiều thủ dữ như cọp, voi, nai, mển v..v…Nhất là voi rất nhiều nên có tiếng là rừng voi. Mỗi lần voi đi đến suối uống nước, kéo từng bầy cả 5, 7 chục con, di chuyền trên một cánh rừng bao la sầm uất. Voi đi tới đâu, dấu chân lún có dấu dài cả đôi ba cây số trong rừng, lâu ngày trời mưa ứ đọng, đồng bào đi hái củi, bẻ măng, gặp những rổng tượng quanh co trong rừng chứa đầy nước. Rổng Tượng đã có nhiều ở miệt rừng núi, nhất là vùng thượng du, dãy núi Trường Sơn (Trung Việt). Các nơi ấy đều cỏ rổng tượng tất cả, chẳng riêng gì Tây Ninh mới có. Nhưng sự tích Láng Tượng hay Rổng Tượng ở địa phương này được nhiều người nhắc tới, là để nói lên đất đai Tây Ninh thuở trước có rất nhiều Tượng (voi) hơn đâu hết. Chính trong chánh sử cũng có ghi rõ điều này” (sđd, trang 83, Phần thứ hai – Di tích lịch sử).
Nói về địa danh Rỗng Tượng ở Thanh Phước ngày nay, sách Trảng Bàng phương chí của Vương Công Đức có chép cụ thể như sau: “Rỏng Tượng: tên khu vực giáp ranh hai xã Gia Bình và Thanh Phước của huyện Gò Dầu, nằm đối diện nhà thờ Bình Nguyên thuộc ấp Bình Nguyên1. Theo Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của ấn hành năm 1895, “rỏng có nghĩa là “đường khuyết xuống hay “đường mương nhỏ, còn “tượng” chỉ con voi. Vậy “Rỏng Tượng” nghĩa là “đường mương nhỏ của con voi. Rỏng này có chiều dài hàng trăm mét là một đoạn thuộc rạch trên của làng Gia Bình. Ngày xưa có nhiều voi từ xóm Đồng xuống con rạch này uống nước. Voi đi thành từng đàn lâu dần tạo thành một cái rỏng, nên dân chúng gọi là “rỏng tượng”. Trước đây chưa có con đường đất đỏ từ Quốc lộ 22 đi vào khu xóm Rỏng Tượng của xã Thanh Phước, phụ nữ xóm này muốn đi chợ Gia Bình phải lội qua “rỏng tượng”… Nay có con lộ đất đi vào xóm nên không còn cảnh này nữa. Một phần xóm Rỏng Tượng ngày trước thuộc ấp Bình Nguyên, xã Gia Bình, sau đó khoảng năm 1973 thì được cắt giao cho xã Thanh Phước của huyện Gò Dầu”.
Núi Voi (nay gọi là núi Phụng) trong cụm núi Bà Đen, nằm sát đường tỉnh 785. Trên bản đồ hạt tham biện Tây Ninh vẽ năm 1896 vẫn ghi là núi Voi. Địa danh này còn liên quan tới hai địa danh gốc Khmer khác là Rôn Đomrey và Phum Sđo. Thuở xa xưa, khi vùng đất Tây Ninh còn là rừng rậm và đầm lầy, nơi đây có rất nhiều voi sinh sống, nên được gọi là [Rôn Dumrey – រោងដំរី ], nghĩa là xứ Chuồng Voi. Chính vì vùng đất này có nhiều voi, nên không ít những phum sóc Khmer xưa làm nghề săn voi, thuần voi để phục vụ cho nhiều công việc tương tự như các dân tộc ở vùng Tây Nguyên. Hiện tại khu Khedol còn một phum Khmer cổ với cái tên là Phum Sđo. Chữ [Sđo – ស្ដ] trong địa danh này nếu viết cho đầy đủ là [đomrey sđo – ដំរីស្ដ] có nghĩa là con voi đực một ngà hoặc theo người Khmer địa phương là con voi sổ đú hung dữ. Phum này xưa kia nằm dưới chân núi ở hướng tây, người Khmer gọi là [Phnum đomrey – ភ្នំដំរីស្ដ ] , về sau được Việt hóa thành núi Voi.
Bên cạnh con voi trong thực tế như đã nói, thì núi Voi còn gắn với truyền thuyết thi đắp núi giữa hai phe nam và nữ trong văn hóa dân gian Khmer. Xin tóm tắt như sau: Ngày xưa, có một nhóm con trai và một nhóm con gái thi nhau đắp núi. Cả hai phe đặt điều kiện với nhau là nếu bên nào thua thì bên đó phải cưới bên kia và giao ước đến khi sao Mai mọc thì cuộc thi chám dứt. Cả hai bên bắt đầu đắp núi, phe nữ làm việc rất tích cực trong khi phái nam ỷ sức khỏe nên không vội vã. Đến nữa đêm công việc của bên phái nữ sắp xong, người đứng đầu phe nữ lấy đèn cột trên ngọn cây giả làm sao Mai. Phe nam tưởng trời đã sáng bèn về, khi hiểu ra thì đã muộn. Từ đó có tục lệ người con trai phải đi cưới người con gái….Và ở đây cũng xin nói thêm rằng, một ngọn núi cao mà chỉ đắp trong vòng một đêm thì đó không phải là công việc của người phàm, mà là công việc của thần nhân ! Mà cái gì liên quan đến những nhân vật kỳ vĩ thì đều không bình thường. Cho nên trong ngày cưới, đàn trai sang đàn gái phải vô cùng trịnh trọng, điều này còn lưu dấu trong bài dân ca [Sdach yeang – ស្តេចយាង – nhà vua đi] rất nổi tiếng:
Người ta nói ông vua
Không bao giờ đi bộ
Khi thì vua cưỡi ngựa
Khi thì vua cưỡi voi
Phải có quan theo hầu
Đằng sau rồi đằng trước
Nào khiêng, nào đưa rước
Rằng hết sức tưng bừng
Sấm vang nghe đùng đùng
Như nổi lên hát múa
Cho tới khi vua ngồi
Ới nàng theo hầu ơi.
Trên là một số địa danh có liên quan đến loài voi và những câu chuyện xung quanh nó. Trải qua mấy trăm năm hình thành và phát triển vùng đất này, cũng như bao dâu bể đổi thay, phần nhiều những địa danh cũ đã bị phủ mờ bởi cát bụi thời gian. Nhưng lớp văn hóa của nó thì vẫn ẩn tàng trầm tích đâu đó. Tìm hiểu địa danh cũng là một hướng đi ngược về với dòng chảy văn hóa của quê hương qua nhiều thời kỳ biến động.
ĐÀO THÁI SƠN