Cao Văn Nghiệp – LÀNG THIỆP NGẠC & XÓM CA PƯ HE Ở RẠCH GIÁ

Cá Vàng cùng với Lê Ngọc Quốc và 2 người khác.

Yêu thích ·3 ngày ·

LÀNG THIỆP NGẠC & XÓM CA PƯ HE Ở RẠCH GIÁ

(Cập nhật ngày 7/8/2025)

Trong cuốn Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ (Nxb Chính trị Quốc gia, 2008), tác giả Nguyễn Đình Tư viết về địa danh hành chính Thiệp Ngạc như sau:

“Thiệp Ngạc – Xã thuộc tg.Kiên Hảo, h.Kiên Giang, p.An Biên, t.Hà Tiên, triều Minh Mạng. Trải qua triều Thiệu Trị, Tự Đức đến đầu thời Pháp thuộc vẫn tổng cũ, đặt thuộc hạt tht.Kiên Giang, rồi Rạch Giá. Từ 5-1-1876 gọi là làng thuộc hạt thb.Rạch Giá. Từ 12-8-1888 thuộc hạt thb.Long Xuyên. Từ 27-12-1892 lại thuộc hạt Rạch Giá. Từ 1-1-1900 thuộc t.Rạch Giá. Ngày 25-5-1901 thuộc tg.Kiên Tường cùng hạt. Sau đó không rõ năm nào giải thể. Xt.” (tr.1167)

Trong cuốn Nam Kỳ địa hạt tổng thôn danh hiệu mục lục – San định năm Nhâm Thìn 1892, làng Thiệp Ngạc (tổng Kiên Hảo, hạt Long Xuyên) được chép chữ Hán là “涉鰐村” (Thiệp Ngạc thôn)[1]. THIỆP NGẠC (涉鰐) có thể tạm hiểu là Sấu lội.

Theo Bản đồ địa hình hạt tham biện Rạch Giá 1895 (Plan topographique de l’arrondissement de Rach Gia 1895) (ở sau gọi tắt là Bản đồ Rạch Giá 1895), làng Thiệp Ngạc: bắc giáp làng Mông Thọ, nam giáp làng Lạc Thổ, đông giáp làng Bàn Thạch[2], tây giáp làng Ngọc Giải[3]. Các làng đó đều thuộc tổng Kiên Tường.

Vào năm 1895, hạt tham biện (thường gọi tắt là hạt) Rạch Giá chỉ có 4 tổng: Kiên Hảo, Kiên Định, Giang Ninh, Thanh Giang. Đầu năm 1900, hạt đổi thành tỉnh (province). Do Nghị định ngày 25-5-1901 về việc chia 4 tổng cũ thành 6 tổng mới nên tỉnh Rạch Giá có thêm 2 tổng mới là Kiến Tường và Thanh Bình. Tiếp theo là Nghị định ngày 18-4-1905 về việc đổi tên làng Vĩnh Thuận Thôn (tổng Thanh Giang) thành làng Vĩnh Viễn. Nhưng vì trên Bản đồ Rạch Giá 1895 ghi nhận 6 tổng Kiên Hảo, Kiên Định, Giang Ninh, Thanh Giang, Kiên Tường, Thanh Bình, và trong tổng Thanh Giang lại có làng Vĩnh Thuận Thôn, nên chúng tôi cho rằng, bản đồ địa hình này được vẽ vào năm 1895, còn tên và địa giới các tổng, các làng đã được cập nhật trong khoảng thời gian từ sau ngày Nghị định ngày 25-5-1901 có hiệu lực và trước ngày Nghị định ngày 18-4-1905 có hiệu lực.

Làng Thiệp Ngạc và 4 làng tứ cận là Mông Thọ, Lạc Thổ, Bàn Thạch, Ngọc Giải vốn thuộc tổng Lạc Thổ. Mà tổng Lạc Thổ, theo cuốn Annuaire de la Cochinchine française pour l’année 1870 (Saigon, Imprimerie du Gouvernement, 1869), gồm 26 làng người Khmer (26 villages cambodgiens). (tr.196). Sau nhiều lần tách nhập, đặc biệt do Nghi định ngày 25-5-1901, 5 làng nói trên đổi thuộc tổng Kiên Tường.

Theo Bản đồ Rạch Giá 1895, trong làng Ngọc Giải có Xóm Ca Pư He. Rất có thể đây là xóm của người Khmer sinh sống 2 bên bờ xẻo Ca Pư He (bản đồ không ghi tên) và xẻo này là một chi lưu của xẻo Ta Kiêp Ca Đam[4].

CA PƯ HE, theo thầy Sok Kha Mo Ni, tiếng Khmer là Kro pơ he/ ក្រពើហែ có nghĩa là Cá sấu đi thành đàn hay Cá sấu diễu hành (Kro pơ/ ក្រពើ là cá sấu, He/ ហែ là đi thành đàn, diễu hành).

CA PƯ HE, theo thầy Sok Kha Mo Ni, tiếng Khmer là Kro pơ he/ ក្រពើហែ có nghĩa là Cá sấu đi thành đàn hay Cá sấu diễu hành (Kro pơ/ ក្រពើ là cá sấu, He/ ហែ là đi thành đàn, diễu hành).

ក្រពើហែ cũng được phiên âm là Kra pơ he và nói trại thành Ca pơ he hoặc Ca po he. Ở thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang có cây cầu, trên bảng ghi là “Cầu CAPOHE”, trên Google Map ghi là “Cầu Pơ He”.

———–

[1] Thôn/ làng Thiệp Ngạc: Mặc dầu từ 5-1-1876, thôn đổi gọi là làng (village), nhưng trong nhiều các văn bản chữ Hán vẫn viết là “村” (thôn). “Thiệp Ngạc”, trên bản đồ ghi là “Thiếp Ngạc”.

[2] Bàn Thạch: Chữ Hán trong Nam Kỳ địa hạt tổng thôn danh hiệu mục lục chép là “盤石”, trên bản đồ ghi là “Bàng Thạch”.

[3] Ngọc Giải: Chữ Hán trong Nam Kỳ địa hạt tổng thôn danh hiệu mục lục chép là “玉解”, trên bản đồ ghi là “Ngọc Giai”.

[4] Ta Kiêp Ca Đam: Từ nguyên có thể là Đong kiếp cà đam/ ដង្កៀបក្តាម nghĩa là [cây] chòi mòi.

Tran Kong

Dạ gởi thầy Cá Vàng . Xung quanh khu vực cầu Ca-Pơ-He trải dài là kv người Khmer sanh sống. KV này tôi đi hơi lâu rồi nhưng vẫn còn nhớ chút chút. Từ Rạch Giá đi gần tới cầu là chùa Kh’lang Ong và Kh’lang Mương. Tiếp đến kv cầu Pơ-He (hiện tại đã bị bỏ mất chữ Ca) là chùa Xà Xiêm và chùa Gò Đất rồi tới chùa Chắc Kha.

Kính.

Cá Vàng

TỔNG KIÊN HẢO

Ở trên tôi đã nói: Thiệp Ngạc, Mông Thọ, Ngọc Giải là 3 trong số 6 làng vốn thuộc tổng Kiên Hảo…

Ở đây xin nói thêm: Trong cuốn Niên giám Nam Kỳ 1970 (Annuaire de la Cochinchine francaise pour l’année 1870), mục Hạt thanh tra Rạch Giá (Inspection du Rach-gia), có 2 câu sau đây:

“Canton de Kien-bao… 26 villages cambodgiens

Canton de Gian-ninh 11 villages cambodgiens” (tr.196)

Tạm dịch:

Tổng Kiên Hảo gồm 26 làng người Khmer

Tổng Giang Ninh gồm 11 làng người Khmer.

Cá Vàng

CẦU CAPOHE (CHÂU THÀNH – KIÊN GIANG)

“Capohe” có lẽ là do tiếng Khmer là Krapư he/ Krapơ he/ ក្រពើហែ – tạm hiểu là Sấu lội thành đàn.

(Ảnh chụp từ trang https://www.facebook.com/watch/?v=127762452680436)

Tran Kong

Dạ , đây là địa bàn năm xưa tôi quần thảo suốt 3-4 chuyên kéo dài. Khảo đc kha khá thông tin. Ta Kiếp Cà Đam trong bài của thầy chính là con rạch Tiếp Cà Đam hiện tại. Xã Giục Tượng bắt nguồn từ ấp Láng Tượng trong xã này. Bàn Thạch và Bàn Tân Định gần sát nhau. Bàn Thạch dân gian gọi Giồng Đá cũng rất thú vị. Khoen Tà Tưng cũng có chùa.

Kính.